Đọc ký hiệu nhám trên bản vẽ
- Phân biệt ba ký hiệu nhám và đọc đúng trị số ghi kèm
- Tìm được nhám chung và hiểu bề mặt không ghi ký hiệu có nhám nào
- Đọc ký hiệu tam giác kiểu cũ trên bản vẽ Nhật và quy đổi giữa Ra, Rz, cấp N
Nhám xuất hiện trên bản vẽ dưới ba dạng: ký hiệu chữ V lệch kèm thông số (bản vẽ ISO, TCVN), ký hiệu kiểu cũ chỉ có một con số, và các tam giác trên bản vẽ Nhật đời cũ. Đọc nhầm một ký hiệu là gia công thừa hoặc thiếu cả một nguyên công.
Ba ký hiệu và chỗ ghi trị số
- a) Ký hiệu cơ bản: hai nét nghiêng dài ngắn khác nhau. Không quy định cách gia công.
- b) Có cắt gọt: thêm nét ngang khép thành tam giác. Bề mặt phải được gia công lấy đi một lớp vật liệu (tiện, phay, khoan, mài…).
- c) Không cắt gọt: thêm vòng tròn. Bề mặt giữ nguyên như sau đúc, rèn, cán, hoặc như nguyên công trước để lại.
- d) Thông số và trị số ghi dưới giá ngang: Ra 3,2 hoặc Rz 12,5. Phía trên giá ngang, nếu có, là phương pháp gia công bắt buộc.
- e) Bản vẽ kiểu cũ chỉ ghi con số phía trên ký hiệu: số đó là Ra. Nếu là Rz thì ghi cả chữ, ví dụ Rz 20.
Ghi ở đâu trên hình
- Đỉnh nhọn của ký hiệu chạm vào bề mặt và chỉ từ phía ngoài vật liệu vào.
- Ký hiệu và chữ số đọc được từ phía dưới hoặc từ bên phải bản vẽ. Mặt dưới và mặt bên phải vì thế được ghi qua đường dẫn có mũi tên.
- Mỗi bề mặt chỉ ghi một lần, trên hình thể hiện bề mặt đó rõ nhất.
Nhám chung. Khi phần lớn bề mặt có cùng độ nhám, ký hiệu đó được ghi một lần ở góc trên bên phải bản vẽ hoặc cạnh khung tên, theo sau là ký hiệu cơ bản đặt trong ngoặc đơn. Ngoặc đơn nhắc rằng trên hình còn một số bề mặt được ghi riêng.
- Mặt trên bên trái: Ra 1,6. Mặt bên trái và mặt bậc: Ra 3,2. Mặt đáy: Ra 6,3.
- Hai mặt còn lại (mặt bên phải và mặt đứng của bậc) không ghi gì: theo nhám chung Ra 12,5.
- Mọi ký hiệu đều có nét ngang khép kín: tất cả là bề mặt gia công cắt gọt.
Tam giác kiểu cũ trên bản vẽ Nhật
Bản vẽ Nhật đời cũ, và rất nhiều bản vẽ còn lưu hành ở xưởng, không ghi trị số mà vẽ các tam giác nhỏ liền nhau trên bề mặt: càng nhiều tam giác, bề mặt càng nhẵn. Dấu ngã là bề mặt để thô. Đôi khi có kèm trị số: chữ a là Ra, chữ S hoặc Z là chiều cao nhấp nhô (25S, 25Z: khoảng 25 µm); chữ G trên tam giác là bề mặt phải mài. Hình 3.6 và Bảng 3.2 ghi theo bảng đối chiếu của JIS cũ: đó là trị số lớn nhất của mỗi mức, dùng để tham khảo khi bản vẽ không in bảng riêng.
| Ra (µm) | Rz (µm) | Cấp N | Tam giác (JIS cũ) |
|---|---|---|---|
| 0,1 | 0,4 | N3 | Bốn tam giác |
| 0,2 | 0,8 | N4 | Bốn tam giác |
| 0,4 | 1,6 | N5 | Ba tam giác |
| 0,8 | 3,2 | N6 | Ba tam giác |
| 1,6 | 6,3 | N7 | Ba tam giác |
| 3,2 | 12,5 | N8 | Hai tam giác |
| 6,3 | 25 | N9 | Hai tam giác |
| 12,5 | 50 | N10 | Một tam giác |
| 25 | 100 | N11 | Một tam giác |
| 50 | 200 | N12 | Dấu ngã (để thô) |
Cấp N1 đến N12 gặp trên bản vẽ châu Âu đời cũ. Tài liệu Việt Nam cũ theo TCVN 2511-78 lại chia nhám thành 14 cấp: cấp 1 nhám nhất, cấp 14 nhẵn nhất.
| Cấp (TCVN 2511-78) | Ra (µm) | Rz (µm) |
|---|---|---|
| 4 | 10 – 5 | 40 – 20 |
| 5 | 5 – 2,5 | 20 – 10 |
| 6 | 2,5 – 1,25 | 10 – 6,3 |
| 7 | 1,25 – 0,63 | 6,3 – 3,2 |
| 8 | 0,63 – 0,32 | 3,2 – 1,6 |
| 9 | 0,32 – 0,16 | 1,6 – 0,8 |
Tài liệu Việt Nam cũ cũng vẽ tam giác, nhưng theo cấp độ nhám chứ không theo bảng của JIS. Theo bài giảng của CVTECH, ở nhiều xưởng một, hai, ba tam giác được hiểu là cấp 4, cấp 5, cấp 6: Ra khoảng 10 – 5, 5 – 2,5 và 2,5 – 1,25 µm. Cùng là một tam giác, bảng của JIS cho Ra tới 25, cách hiểu này chỉ cho tới 10.