Từ dung sai tới gia công: lập trình, đo và bù dao
- Tính kích thước lập trình ở giữa miền dung sai
- Thực hiện đúng trình tự cắt thử – đo – bù – cắt tinh và tính được lượng bù
- Tránh sai số do đo khi chi tiết còn nóng; hiểu vì sao dung sai chặt thì đắt
Đọc đúng dung sai mới là một nửa công việc. Nửa còn lại: đặt kích thước lập trình ở đâu, cắt thử thế nào, đo xong bù bao nhiêu để chi tiết đầu tiên đã đạt và cả loạt không trôi dần ra ngoài.
Lập trình theo kích thước giữa miền dung sai
Dao mòn, máy nóng lên, phôi cứng mềm khác nhau làm kích thước dao động quanh giá trị lập trình. Đặt đích ở giữa miền dung sai thì còn khoảng dự trữ đều về hai phía.
| Trên bản vẽ | Hai giới hạn | Lập trình |
|---|---|---|
| Ø25 −0,02 / −0,04 | 24,96 … 24,98 | 24,97 |
| Ø30h7 (0 / −0,021) | 29,979 … 30,000 | 29,99 |
| Ø20H7 (+0,021 / 0) | 20,000 … 20,021 | 20,01 |
| 50 +0,10 / −0,05 | 49,95 … 50,10 | 50,025 |
| 32 ±0,05 | 31,95 … 32,05 | 32 |
Cắt thử – đo – bù – cắt tinh
- Cắt thử, để dư. Nhập lượng dư vào bù mòn dao (wear offset) rồi chạy dao tinh. Trên máy tiện Fanuc là cột X của trang
OFFSET/WEAR, tính theo đường kính. - Đo bằng dụng cụ đủ chính xác: miền dung sai dưới 0,2 mm (ví dụ ±0,05) thì dùng panme; thước cặp 0,02 chỉ đủ cho miền từ 0,2 mm trở lên (xem bài chọn dụng cụ ở chương 4).
- Bù. Lượng cần chỉnh = số đo − đích. Trục còn to thì cộng thêm vào wear một trị số âm đúng bằng lượng đó (gõ số rồi bấm
+INPUTđể cộng dồn). - Cắt tinh lại đúng dao đó, chế độ cắt đó, rồi đo lại.
Khi chạy loạt, dao mòn dần làm trục to dần, lỗ móc nhỏ dần. Đo định kỳ và bù từng 0,01 mm trước khi kích thước chạm giới hạn. Thay mảnh dao mới thì đưa wear về mức an toàn và cắt thử lại từ đầu.
Trên máy phay, kích thước biên dạng chỉnh bằng bù bán kính dao (cột D, phần wear). Trị số này tính theo bán kính: bề rộng lệch bao nhiêu thì chỉ bù một nửa. Giảm bù bán kính thì dao ăn sát biên dạng hơn: vấu, mặt ngoài nhỏ đi; hốc, lỗ to ra. Tên trang màn hình khác nhau giữa các hệ điều khiển nhưng nguyên tắc như nhau.
- Đích lập trình: X24.97. Nhập wear X = +0,300 để cắt thử; dự kiến đo được 24,97 + 0,30 = 25,27.
- Để nguội, đo bằng panme được 25,29: máy đang cắt to hơn dự kiến 0,02.
- Lượng cần giảm: 25,29 − 24,97 = 0,32. Gõ −0.32, bấm
+INPUT; wear X mới = +0,300 − 0,320 = −0,020. - Chạy lại dao tinh, đo lại: kích thước về quanh 24,97.
- Giới hạn 39,95 … 40,00; đích 39,975.
- Phay tinh xong đo được 40,015: còn rộng hơn đích 0,04.
- Dao cắt cả hai bên vấu nên mỗi bên thừa 0,02: giảm bù bán kính dao 0,02 rồi chạy lại đường tinh.
Đo lúc nào
- Chi tiết vừa cắt xong còn nóng và đang giãn nở. Thép dài thêm khoảng 0,012 mm trên mỗi 100 mm khi nóng thêm 10 °C; nhôm giãn gấp đôi. Đo lúc nóng thấy đạt, nguội đi co lại có thể hụt.
- Với dung sai chặt: tưới nguội đủ, để chi tiết về nhiệt độ xưởng rồi mới đo và quyết định bù. Kích thước trên bản vẽ được hiểu ở 20 °C.
- Lau sạch phoi và dung dịch, cạo bavia ở mép, đo hai ba vị trí rồi mới kết luận.
Dung sai càng chặt, chi phí càng cao
Mỗi lần dung sai chặt thêm là thêm lần cắt thử, thêm lần đo, dao tốt hơn, chạy chậm hơn và tỉ lệ phế phẩm cao hơn. Người đứng máy nên dồn công sức cho vài kích thước có dung sai chặt; kích thước tự do thì cắt một lần, kiểm bằng thước cặp là xong.