Độ nhám bề mặt
- Giải thích được Ra, Rz
- Phân biệt ba ký hiệu nhám: cơ bản, có cắt gọt, không cắt gọt
- Đọc được ký hiệu nhám ghi trên hình và ký hiệu nhám chung ở góc bản vẽ
- Quy đổi được ký hiệu tam giác kiểu cũ của Nhật sang Ra, Rz
Nhám bề mặt và hai thông số Ra, Rz
Bề mặt sau gia công nhìn có vẻ nhẵn nhưng dưới kính phóng đại là những nhấp nhô rất nhỏ do lưỡi dao để lại. Mức độ nhấp nhô đó gọi là độ nhám bề mặt. Nhám ảnh hưởng tới ma sát, mài mòn, độ kín khít, độ bền mỏi và cả giá thành: bề mặt càng nhẵn càng tốn công gia công.
- Ra – sai lệch trung bình số học của biên dạng: trung bình cộng các khoảng cách (lấy trị tuyệt đối) từ các điểm của biên dạng tới đường trung bình, trong phạm vi chiều dài chuẩn.
- Rz – chiều cao nhấp nhô của biên dạng: khoảng cách từ đỉnh cao nhất tới đáy thấp nhất trong phạm vi chiều dài chuẩn. Tiêu chuẩn cũ tính Rz theo trung bình của năm đỉnh cao nhất và năm đáy thấp nhất.
Cả hai thông số tính bằng micrômét. Trị số càng nhỏ, bề mặt càng nhẵn. Trên cùng một bề mặt, Rz lớn hơn Ra; trong thực tế thường lấy gần đúng Rz ≈ 4·Ra.
Ký hiệu nhám
- Ký hiệu cơ bản (a): hai nét nghiêng 60° dài ngắn khác nhau. Không quy định phương pháp gia công.
- Có cắt gọt (b): thêm một nét ngang thành tam giác. Bề mặt phải được gia công lấy đi một lớp vật liệu: tiện, phay, mài…
- Không cắt gọt (c): thêm một vòng tròn. Bề mặt giữ nguyên như sau đúc, rèn, cán, hoặc tạo hình không phoi.
- Thông số và trị số, ví dụ "Ra 3,2", viết dưới một giá ngang kẻ từ đầu nét dài (d, e), theo ISO 1302. Bản vẽ cũ chỉ ghi trị số Ra phía trên ký hiệu (g).
Vị trí ghi trên bản vẽ
- Đỉnh nhọn của ký hiệu chạm vào bề mặt và chỉ từ phía ngoài vật liệu vào.
- Ký hiệu và chữ số phải đọc được từ phía dưới hoặc từ phía bên phải bản vẽ, như con số kích thước. Vì vậy với mặt dưới và mặt bên phải, ký hiệu được đặt trên đường dẫn có mũi tên.
- Có thể đặt ký hiệu trên đường dóng kích thước nếu trên đường bao không đủ chỗ.
- Mỗi bề mặt chỉ ghi một lần, trên hình thể hiện bề mặt đó rõ nhất.
Ghi nhám chung. Khi phần lớn bề mặt có cùng độ nhám, ký hiệu đó được ghi một lần ở góc trên bên phải bản vẽ (hoặc cạnh khung tên), theo sau là ký hiệu cơ bản đặt trong ngoặc đơn. Ngoặc đơn nhắc rằng trên hình còn một số bề mặt được ghi nhám riêng.
Trị số Ra và phương pháp gia công
| Ra (µm) | Phương pháp gia công thường đạt được | Bề mặt thường dùng |
|---|---|---|
| 25 – 12,5 | Tiện thô, phay thô, khoan, cưa | Bề mặt tự do, không tiếp xúc với chi tiết khác |
| 6,3 | Tiện, phay, bào bán tinh | Mặt tì không quan trọng, mặt đầu, mép vát |
| 3,2 | Tiện tinh, phay tinh, khoét | Mặt lắp ghép cố định thông thường, mặt bên rãnh then |
| 1,6 | Tiện tinh, doa, mài thô | Lỗ H7, trục lắp bánh răng, mặt định vị |
| 0,8 | Mài, doa tinh | Ngõng trục lắp ổ lăn, mặt trượt |
| 0,4 | Mài tinh | Bề mặt làm kín, bề mặt làm việc ở tốc độ cao |
| 0,2 và nhỏ hơn | Mài nghiền, đánh bóng | Dụng cụ đo, bề mặt gương |
Ký hiệu tam giác kiểu cũ của Nhật
Bản vẽ Nhật đời cũ, và rất nhiều bản vẽ đang lưu hành ở xưởng, không ghi trị số mà ghi số tam giác ▽: càng nhiều tam giác, bề mặt càng nhẵn. Dấu ngã ~ chỉ bề mặt để thô, không gia công. Bản vẽ ở Hình 8.32 (Bài 7) in sẵn bảng đối chiếu ký hiệu cũ và mới: ▽ ứng với 100Z, ▽▽ ứng với 25Z, ▽▽▽ ứng với 6.3Z; chữ Z là Rz tính bằng micrômét. Chữ G ghi trên tam giác là bề mặt phải mài (grinding).
- Góc trên bên phải ghi Ra 6,3 kèm ký hiệu cơ bản trong ngoặc: mọi bề mặt không ghi riêng có Ra 6,3 µm.
- Hai ngõng trục ghi riêng Ra 1,6: nhẵn hơn, phải tiện tinh hoặc mài.
- Ký hiệu có nét ngang khép kín thành tam giác: tất cả là bề mặt gia công cắt gọt.