Nội dung bản vẽ chi tiết và cách chọn hình biểu diễn
- Nêu được năm nội dung của một bản vẽ chi tiết
- Chọn được hình chiếu chính theo vị trí gia công hoặc vị trí làm việc
- Nhận ra cách biểu diễn đặc trưng của bốn nhóm chi tiết: trục – bạc, đĩa – nắp, càng – giá, hộp – thân
Bản vẽ chi tiết là gì
Bản vẽ chi tiết (còn gọi là bản vẽ chế tạo) là bản vẽ riêng của một chi tiết, có đủ thông tin để người thợ chế tạo và người kiểm tra nghiệm thu chi tiết đó mà không phải hỏi lại người thiết kế. Mỗi chi tiết được vẽ trên một bản vẽ riêng, có khung tên riêng.
Một bản vẽ chi tiết luôn có năm nội dung:
- Hình biểu diễn: các hình chiếu, hình cắt, mặt cắt, hình trích cho biết hình dạng và kết cấu của chi tiết.
- Kích thước: đủ để xác định độ lớn của chi tiết và của từng phần tử trên chi tiết.
- Dung sai và độ nhám bề mặt: mức chính xác về kích thước, hình dạng, vị trí và độ nhẵn mà bề mặt phải đạt.
- Yêu cầu kỹ thuật: vật liệu, nhiệt luyện, xử lý bề mặt, các ghi chú chung.
- Khung tên: tên chi tiết, vật liệu, số lượng, tỉ lệ, số bản vẽ, người vẽ, người kiểm tra, người duyệt.
Chọn hình chiếu chính
Hình chiếu chính (hình chiếu đứng hoặc hình cắt đứng) là hình được đọc đầu tiên, nên phải thể hiện được nhiều nhất hình dạng đặc trưng của chi tiết. Chi tiết được đặt theo một trong hai cách:
- Theo vị trí gia công: chi tiết nằm trên bản vẽ giống như khi nó được kẹp trên máy. Trục, bạc, đĩa, nắp chủ yếu được tiện, nên vẽ với đường trục nằm ngang. Người thợ đối chiếu bản vẽ với phôi mà không phải xoay bản vẽ.
- Theo vị trí làm việc: chi tiết nằm như khi nó làm việc trong máy. Cách này dùng cho giá đỡ, thân máy, vỏ hộp là những chi tiết phải qua nhiều nguyên công ở nhiều tư thế khác nhau.
Bốn nhóm chi tiết và cách biểu diễn
Dạng trục – bạc. Chi tiết tròn xoay, chiều dài lớn hơn đường kính. Chỉ cần một hình chiếu chính với trục nằm ngang; ký hiệu Ø trước con số kích thước đã cho biết mặt cắt ngang là hình tròn. Rãnh then, lỗ ngang, mặt vát được làm rõ bằng mặt cắt rời hoặc hình cắt riêng phần. Bạc là chi tiết rỗng nên hình chiếu chính thường là hình cắt.
Dạng đĩa – nắp. Chi tiết tròn xoay, đường kính lớn hơn chiều dài: nắp ổ, mặt bích, bánh đai. Thường dùng hai hình: hình cắt đứng với trục nằm ngang để thấy kết cấu bên trong, và hình chiếu cạnh để thấy sự phân bố các lỗ trên vòng tròn chia.
Dạng càng – giá. Gồm các ống, moay ơ nối với nhau bằng thân và gân: càng gạt, tay biên, giá đỡ. Thường cần hai hình chiếu, kết hợp hình cắt riêng phần ở các lỗ và mặt cắt chập hoặc mặt cắt rời để thấy tiết diện của thân, của gân.
Dạng hộp – thân. Chi tiết rỗng, nhiều thành vách, gờ, lỗ: thân bơm, vỏ hộp giảm tốc. Đặt theo vị trí làm việc, thường cần ba hình biểu diễn trở lên, trong đó hình cắt chiếm phần lớn để thấy khoang rỗng bên trong.
| Nhóm chi tiết | Đặt hình chiếu chính | Hình biểu diễn thường dùng |
|---|---|---|
| Trục – bạc | Vị trí gia công, trục nằm ngang | Một hình chiếu chính, mặt cắt rời, hình trích |
| Đĩa – nắp | Vị trí gia công, trục nằm ngang | Hình cắt đứng và hình chiếu cạnh |
| Càng – giá | Vị trí làm việc hoặc vị trí rõ hình dạng nhất | Hai hình chiếu, hình cắt riêng phần, mặt cắt chập |
| Hộp – thân | Vị trí làm việc | Ba hình trở lên, chủ yếu là hình cắt |
- Trục thuộc nhóm trục – bạc, được tiện là chính: đặt trục nằm ngang.
- Mọi bậc trục đều là mặt trụ, kích thước đường kính có ký hiệu Ø: không cần hình chiếu cạnh, hình chiếu bằng.
- Rãnh then không tròn xoay: xoay trục sao cho rãnh then quay về phía người nhìn, rồi thêm một mặt cắt rời qua rãnh để ghi bề rộng và chiều sâu rãnh.
- Kết quả: một hình chiếu chính và một mặt cắt rời như Hình 8.2.