Hình cắt toàn phần: đứng, bằng, cạnh
- Gọi đúng tên hình cắt đứng, hình cắt bằng, hình cắt cạnh theo vị trí mặt phẳng cắt
- Vẽ được hình cắt toàn phần từ hai hoặc ba hình chiếu theo bốn bước
- Nhận ra các lỗi thiếu nét và gạch sai trên hình cắt
Gọi tên hình cắt theo vị trí mặt phẳng cắt
Hình cắt được gọi tên theo mặt phẳng hình chiếu mà mặt phẳng cắt song song với nó.
- Hình cắt đứng: mặt phẳng cắt song song với mặt phẳng hình chiếu đứng. Hình cắt đặt ở vị trí hình chiếu đứng.
- Hình cắt bằng: mặt phẳng cắt song song với mặt phẳng hình chiếu bằng. Hình cắt đặt ở vị trí hình chiếu bằng.
- Hình cắt cạnh: mặt phẳng cắt song song với mặt phẳng hình chiếu cạnh. Hình cắt đặt ở vị trí hình chiếu cạnh.
- Nếu mặt phẳng cắt nghiêng so với các mặt phẳng hình chiếu cơ bản thì có hình cắt nghiêng, bố trí và ghi chú như hình chiếu phụ.
Hình cắt toàn phần
Hình cắt toàn phần là hình cắt tạo bởi một mặt phẳng cắt cắt qua toàn bộ vật thể. Đây là loại hình cắt cơ bản nhất. Nó thường dùng khi hình chiếu tương ứng không đối xứng, hoặc đối xứng nhưng hình dạng bên ngoài đơn giản nên không cần giữ lại.
Cách vẽ từ hình chiếu
- Chọn mặt phẳng cắt đi qua trục các lỗ, rãnh cần thể hiện; ghi nét cắt, mũi tên, chữ trên hình chiếu liên quan.
- Biến nét khuất thành nét thấy: mọi cạnh của lỗ, hốc nằm trên và sau mặt phẳng cắt nay nhìn thấy được. Bỏ các cạnh thuộc phần vật thể đã cắt đi.
- Gạch mặt cắt ở những vùng mặt phẳng cắt đi qua vật liệu. Lỗ, rãnh, hốc để trắng.
- Hoàn thiện: tô đậm đường bao, vẽ đường tâm, ghi tên hình cắt. Các nét khuất còn lại thường không vẽ.
Mặt phẳng cắt A–A đi qua tâm ba lỗ và giữa hốc chữ nhật. Ở bước 2, chín nét khuất của hình chiếu đứng đều trở thành nét thấy. Ở bước 3, vùng gạch gồm hai thành hộp, phần đáy ở hai bên lỗ Ø15 và phần đế ở hai bên mỗi lỗ Ø8. Vì A–A trùng mặt phẳng đối xứng trước – sau của thân hộp nên ký hiệu có thể lược bỏ; ở đây vẫn ghi để dễ theo dõi.
- A–A song song với mặt phẳng hình chiếu đứng và vuông góc với trục lỗ Ø20: lỗ lớn hiện ra là một đường tròn để trắng, hai lỗ đế bị cắt dọc.
- B–B song song với mặt phẳng hình chiếu cạnh và chứa trục lỗ Ø20: lỗ lớn bị cắt dọc, hiện ra là hai nét thấy nằm ngang. Hai lỗ đế không nằm trên B–B nên chỉ còn đường tâm.
- Hình chiếu bằng vẫn vẽ ổ đỡ nguyên vẹn, kể cả nét khuất của lỗ.
Hình cắt bằng
Ở hình cắt bằng, mặt phẳng cắt nằm ngang. Vết cắt được ghi trên hình chiếu đứng (hoặc cạnh), mũi tên chỉ xuống dưới. Hình 6.18 cắt ổ đỡ bằng mặt phẳng nằm ngang đi qua trục lỗ Ø20: phần khối phía trên bị bỏ đi, hai thành lỗ bị cắt nên được gạch, đế nằm phía dưới mặt phẳng cắt nên chỉ nhìn thấy mà không gạch.