Đọc bản vẽ bằng phân tích bề mặt
- Nêu được hình chiếu của mặt phẳng ở các vị trí khác nhau so với mặt phẳng hình chiếu
- Vận dụng hai hướng dẫn để tìm hình chiếu tương ứng của từng bề mặt
- Đọc được vật thể có mặt nghiêng, mặt vát
Nhiều vật thể được tạo ra bằng cách cắt vát một khối ban đầu, rất khó tách thành các khối cơ bản. Khi đó ta đọc theo từng bề mặt: mỗi vùng kín trên một hình chiếu là hình chiếu của một bề mặt; tìm xem bề mặt ấy hiện ra thế nào trên các hình còn lại, ta biết được vị trí của nó trong không gian.
1. Các bước đọc
- Xác định hướng nhìn của từng hình chiếu.
- Chọn một vùng kín hoặc một đường trên một hình chiếu, gióng sang các hình còn lại để tìm hình chiếu tương ứng của nó.
- Từ các hình chiếu tương ứng, hình dung và phác hoạ bề mặt đó.
- Lặp lại bước 2 và bước 3 cho đến khi đọc hết các bề mặt của vật thể.
2. Hình chiếu của một mặt phẳng
| Vị trí của mặt phẳng | Trên ba hình chiếu |
|---|---|
| Song song với một mặt phẳng hình chiếu | Hình dạng thật trên hình chiếu đó; hai hình còn lại là đoạn thẳng nằm ngang hoặc thẳng đứng |
| Vuông góc với một mặt phẳng hình chiếu, nghiêng với hai mặt kia | Một đoạn thẳng nghiêng trên hình chiếu đó; hai hình còn lại là hai hình bị co hẹp, có cùng số cạnh |
| Nghiêng với cả ba mặt phẳng hình chiếu | Ba hình bị co hẹp, có cùng số cạnh; không hình nào là đoạn thẳng |
3. Hướng dẫn 1
Những bề mặt không cùng nằm trong một mặt phẳng thì được phân chia bằng đường thẳng. Nói cách khác: hai vùng kín kề nhau trên một hình chiếu, ngăn cách bởi một nét, là hai bề mặt khác nhau. Chúng có thể cao thấp khác nhau, hoặc nghiêng khác nhau. Riêng một hình chiếu chưa cho biết trường hợp nào xảy ra (Hình 5.36); phải xem thêm hình chiếu khác.
4. Hướng dẫn 2
Những bề mặt có hình dạng tương tự nhau trên các hình chiếu thường là một mặt phẳng. Khi thấy trên hai hình chiếu có hai vùng cùng dạng, cùng số cạnh và gióng đúng với nhau, đó là hai hình chiếu của cùng một mặt. Trên hình chiếu thứ ba, mặt này thường hiện thành một đoạn thẳng nghiêng (Hình 5.37).
- Mặt 1 là vùng kín năm cạnh trên hình chiếu đứng. Trên hình chiếu bằng và cạnh nó chỉ là đoạn thẳng ở mép trước. Vậy mặt 1 song song với mặt phẳng hình chiếu đứng: đó là mặt trước, có hình dạng thật.
- Mặt 2 là hình chữ nhật bên trái trên hình chiếu bằng, ứng với đoạn nằm ngang trên đỉnh hình chiếu đứng: mặt trên, nằm ngang, cao 40.
- Mặt 3 là hình chữ nhật bên phải trên hình chiếu bằng, ứng với đoạn thẳng nghiêng trên hình chiếu đứng: mặt nghiêng, vuông góc với mặt phẳng hình chiếu đứng, hạ từ cao 40 xuống cao 10. Nhìn từ trái mặt này bị che nên mép dưới của nó là nét đứt trên hình chiếu cạnh.
- Mặt 4 là hình vuông trên hình chiếu cạnh, ứng với đoạn thẳng đứng ở mép trái của hai hình kia: mặt bên trái.
Bước 1. Hình chiếu đứng có hai vùng kín. Vùng 1 ở dưới ứng với mép trước của hình chiếu bằng: mặt trước của đế. Vùng 2 ở trên ứng với đường nằm ngang giữa hình chiếu bằng và đường thẳng đứng giữa hình chiếu cạnh: mặt trước của thành đứng, lùi vào 20 so với mặt 1. Giữa hai mặt là mặt 3 nằm ngang, cao 10: mặt trên của đế.
Bước 2. Trên hình chiếu bằng và hình chiếu cạnh có hai hình chữ nhật tương tự (vùng 4), gióng với đoạn thẳng nghiêng ở góc trên trái hình chiếu đứng: theo Hướng dẫn 2, đó là một mặt vát nghiêng. Vùng 5 trên hình chiếu bằng ứng với đoạn nằm ngang thấp hơn trên hình chiếu đứng: đáy rãnh, cao 25. Vùng 6 là các mặt trên cùng, cao 40. Vùng 7 hình chữ L trên hình chiếu cạnh là mặt bên trái.