Ghi kích thước vật thể
- Phân biệt kích thước định hình, kích thước định vị và kích thước khuôn khổ
- Chọn được chuẩn kích thước theo ba chiều
- Ghi đủ, không thừa và đặt kích thước ở hình chiếu hợp lý
Hình chiếu cho biết hình dạng, còn độ lớn của vật thể do kích thước quyết định. Muốn ghi đủ mà không thừa, ta lại dùng phương pháp phân tích hình dạng: ghi kích thước cho từng khối, rồi ghi vị trí của các khối so với nhau.
1. Ba loại kích thước
- Kích thước định hình: xác định độ lớn của từng khối hình học tạo thành vật thể. Ví dụ dài, rộng, cao của hình hộp; đường kính và chiều sâu của lỗ; bán kính góc lượn.
- Kích thước định vị: xác định vị trí tương đối giữa các khối. Ví dụ khoảng cách từ tâm lỗ đến mặt đầu, khoảng cách giữa hai tâm lỗ.
- Kích thước khuôn khổ: ba kích thước lớn nhất theo chiều dài, chiều rộng, chiều cao của toàn bộ vật thể. Chúng cho biết cần chuẩn bị phôi cỡ nào.
Một kích thước có thể đóng hai vai trò. Ở Hình 5.25, 90 và 50 vừa là kích thước định hình của tấm đế vừa là kích thước khuôn khổ.
2. Chuẩn kích thước
Kích thước định vị phải xuất phát từ chuẩn. Mỗi chiều chọn một đường hoặc một mặt của vật thể làm chuẩn. Thường chọn mặt đáy, mặt đầu đã gia công, mặt phẳng đối xứng của vật thể, hoặc trục của khối tròn xoay (Hình 5.26). Vị trí của lỗ và của khối tròn xoay luôn được ghi đến trục của nó, không ghi đến mép lỗ.
Khối nào đặt sát chuẩn hoặc nằm đối xứng qua mặt phẳng chuẩn thì không cần kích thước định vị theo chiều đó. Ở Hình 5.25, vấu nằm sát đầu phải và rộng bằng tấm đế nên không có kích thước định vị nào.
3. Nguyên tắc đặt kích thước
- Mỗi kích thước chỉ ghi một lần trên toàn bản vẽ.
- Ghi ở hình chiếu thể hiện rõ nhất hình dạng của phần tử đó; các kích thước của cùng một phần tử nên đặt gần nhau.
- Không ghi kích thước trên nét khuất. Đường kính lỗ ghi ở hình chiếu mà lỗ là đường tròn; bán kính ghi ở hình chiếu thấy cung tròn.
- Đặt kích thước ở ngoài đường bao; kích thước nhỏ ở trong, kích thước lớn ở ngoài để đường gióng không cắt đường kích thước.
- Không ghi thành chuỗi khép kín: khi đã có kích thước tổng thì bỏ một kích thước thành phần ít quan trọng nhất.
Phân tích. Giá đỡ gồm ba phần (Hình 5.28): phần đế hình hộp có hai góc lượn và hai lỗ trụ; phần sườn là lăng trụ đáy tam giác vuông; phần thành đứng gồm hình hộp ở dưới, nửa hình trụ ở trên, giữa có lỗ trụ.
| Kích thước | Loại | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| 80, 54, 14 | Định hình | Dài, rộng, dày của đế |
| R10, Ø10 | Định hình | Góc lượn và hai lỗ của đế |
| 35, 20, 12 | Định hình | Dài, cao, dày của sườn |
| 15, R27, Ø32 | Định hình | Chiều dày thành đứng, bán kính nửa trụ, đường kính lỗ |
| 70, 34 | Định vị | Tâm hai lỗ Ø10: cách mặt đầu phải 70, cách nhau 34 |
| 60 | Định vị | Trục lỗ Ø32 cách mặt đáy 60 |
| 80, 54 | Khuôn khổ | Chiều dài và chiều rộng lớn nhất |
Sườn và thành đứng nằm đối xứng qua mặt phẳng giữa và tựa sát vào nhau nên không cần kích thước định vị. Chiều cao khuôn khổ là 60 + 27 = 87, nhưng không ghi số 87: khi vật thể kết thúc bằng mặt trụ, chiều cao được xác định qua vị trí trục (60) và bán kính (R27). Bán kính R27 và đường kính Ø32 ghi ở hình chiếu cạnh, nơi chúng là cung tròn và đường tròn.