Trình tự vẽ ba hình chiếu của vật thể
- Phân tích được vật thể thành các khối hình học cơ bản
- Vẽ ba hình chiếu theo đúng trình tự: bố trí, vẽ mờ từng khối, xét thấy khuất, tô đậm
- Vẽ đúng nét khuất, đường trục, đường tâm
Vật thể dù phức tạp cũng được tạo thành từ các khối hình học cơ bản: hình hộp, lăng trụ, trụ, nón, cầu. Cách vẽ chắc chắn nhất là phân tích hình dạng: chia vật thể thành các khối, rồi vẽ hình chiếu của từng khối.
1. Năm bước vẽ
- Phân tích hình dạng. Chia vật thể thành các khối cơ bản, xác định kích thước và vị trí tương đối giữa chúng.
- Chọn hướng chiếu và bố trí. Chọn hình chiếu đứng như Bài 2. Vẽ khung bao của ba hình chiếu bằng nét liền mảnh, chừa khoảng cách đều giữa các hình và chỗ ghi kích thước. Kẻ đường xiên 45° nếu dùng nó để gióng chiều rộng.
- Vẽ mờ từng khối. Dùng nét liền mảnh, vẽ khối lớn trước, khối nhỏ sau. Mỗi khối vẽ trên cả ba hình chiếu cùng lúc rồi mới sang khối khác. Với lỗ và mặt tròn xoay: vẽ đường trục, đường tâm trước, vẽ đường tròn, sau đó mới gióng sang các hình còn lại.
- Xét thấy khuất và giao tuyến. Cạnh bị che vẽ nét đứt. Chỗ hai khối ghép liền thành một mặt phẳng thì không có nét ngăn cách. Xoá các nét thừa.
- Tô đậm. Tô đường tròn và cung tròn trước, rồi đến các đoạn thẳng; sau đó vẽ nét đứt, đường trục, đường tâm. Cuối cùng ghi kích thước.
Phân tích. Vật thể gồm ba khối (Hình 5.14): đế là hình hộp 60 × 40 × 10; thành đứng là hình hộp 60 × 10 × 30 đặt trên đế, sát mép sau; gân là lăng trụ đáy tam giác vuông dày 10, hai cạnh góc vuông dài 25, đặt giữa chiều dài, tựa vào thành.
Bố trí. Hướng chiếu đứng nhìn thẳng vào thành đứng. Khung bao: hình chiếu đứng 60 × 40, hình chiếu bằng 60 × 40, hình chiếu cạnh 40 × 40.
Vẽ đế. Đế là hình chữ nhật trên cả ba hình chiếu: 60 × 10 ở đáy hình chiếu đứng, 60 × 40 trên hình chiếu bằng (trùng khung bao), 40 × 10 ở đáy hình chiếu cạnh.
Vẽ thành đứng. Hình chiếu đứng: hình chữ nhật 60 × 30 nằm trên đế. Hình chiếu bằng: dải rộng 10 ở mép sau, tức phía trên của hình. Hình chiếu cạnh: dải rộng 10 ở bên trái, vì trên hình chiếu cạnh phía sau vật thể nằm gần hình chiếu đứng.
Vẽ gân. Biên dạng tam giác của gân chỉ hiện trên hình chiếu cạnh nên vẽ ở đó trước, rồi gióng sang: trên hình chiếu đứng và hình chiếu bằng gân là hai hình chữ nhật rộng 10.
Xét thấy khuất, tô đậm. Nhìn theo cả ba hướng không có cạnh nào bị che nên không có nét đứt. Trên hình chiếu cạnh, cạnh đứng của gân trùng với mặt trước của thành.
Phân tích. Ổ đỡ gồm đế hình hộp 80 × 40 × 10 và khối hộp 40 × 40 × 30 đặt giữa đế. Khối trên có lỗ Ø20 nằm ngang, xuyên suốt chiều rộng, tâm cao 25 so với đáy. Đế có hai lỗ Ø10 thẳng đứng, tâm cách hai đầu 10.
Vẽ lỗ. Lỗ Ø20 là đường tròn trên hình chiếu đứng; gióng hai điểm cao nhất và thấp nhất sang hình chiếu cạnh, hai điểm ngoài cùng xuống hình chiếu bằng để có hai cặp nét đứt. Hai lỗ Ø10 là đường tròn trên hình chiếu bằng, là nét đứt trên hai hình còn lại.