Hình chiếu cơ bản, hình chiếu phụ, hình chiếu riêng phần
- Gọi đúng tên sáu hình chiếu cơ bản và bố trí chúng theo phương pháp chiếu góc thứ nhất
- Biết khi nào phải ghi ký hiệu hình chiếu bằng chữ hoa và mũi tên
- Nhận biết và nêu được công dụng của hình chiếu phụ, hình chiếu riêng phần
Hình chiếu của vật thể là hình biểu diễn các phần thấy của vật thể đối với người quan sát. Đường bao thấy và giao tuyến thấy vẽ bằng nét liền đậm. Các phần khuất được thể hiện bằng nét đứt để giảm số lượng hình biểu diễn.
Khi chiếu, vật thể được đặt sao cho các bề mặt của nó song song với mặt phẳng hình chiếu, nhờ đó hình chiếu phản ánh hình dạng thật của các bề mặt ấy. Trên bản vẽ không vẽ trục chiếu, không vẽ đường gióng và không ghi tên các đỉnh, các cạnh. Hình chiếu của vật thể gồm ba loại: hình chiếu cơ bản, hình chiếu phụ và hình chiếu riêng phần.
1. Sáu hình chiếu cơ bản
Tiêu chuẩn lấy sáu mặt của một hình hộp bao quanh vật thể làm sáu mặt phẳng hình chiếu cơ bản. Chiếu vật thể lên sáu mặt này theo sáu hướng (Hình 5.1) ta được sáu hình chiếu cơ bản.
Sau khi chiếu, các mặt của hình hộp được trải phẳng về mặt phẳng bản vẽ. Theo phương pháp chiếu góc thứ nhất (PPCG1, hệ E) dùng trong TCVN, vật thể nằm giữa người quan sát và mặt phẳng hình chiếu, nên lấy hình chiếu đứng làm gốc thì các hình còn lại được đặt như Hình 5.2:
- Hình chiếu từ trên (hình chiếu bằng) đặt ở dưới hình chiếu đứng.
- Hình chiếu từ trái (hình chiếu cạnh) đặt ở bên phải hình chiếu đứng.
- Hình chiếu từ phải đặt ở bên trái; hình chiếu từ dưới đặt ở trên.
- Hình chiếu từ sau đặt ở bên phải hình chiếu cạnh (hoặc bên trái hình chiếu từ phải), sao cho thuận tiện.
Hình chiếu từ trước gọi là hình chiếu đứng, còn gọi là hình chiếu chính. Phần lớn vật thể chỉ cần ba hình chiếu đứng, bằng, cạnh (Hình 5.3). Ba hình này luôn gióng thẳng hàng với nhau: hình chiếu bằng thẳng cột với hình chiếu đứng, hình chiếu cạnh thẳng hàng ngang với hình chiếu đứng.
2. Khi nào phải ghi ký hiệu
Nếu vì thiếu chỗ mà một hình chiếu cơ bản không đặt đúng vị trí như Hình 5.2 thì phải ghi ký hiệu: vẽ mũi tên chỉ hướng chiếu kèm một chữ in hoa bên cạnh hình có liên quan, và ghi lại chữ đó phía trên hình chiếu (Hình 5.4).
3. Hình chiếu phụ
Khi vật thể có phần nằm nghiêng so với các mặt phẳng hình chiếu cơ bản, hình chiếu cơ bản của phần đó bị biến dạng: đường tròn thành elip, chiều dài bị co ngắn. Lúc này dùng hình chiếu phụ: hình chiếu trên một mặt phẳng không song song với mặt phẳng hình chiếu cơ bản, thường chọn song song với phần nghiêng để thu được hình dạng thật của nó (Hình 5.5).
- Hình chiếu phụ chỉ vẽ phần cần thể hiện và được giới hạn bằng nét lượn sóng.
- Phải ghi chữ in hoa trên hình chiếu phụ, tương ứng với chữ đặt cạnh mũi tên chỉ hướng chiếu.
- Có thể xoay hình chiếu phụ về vị trí thuận tiện, khi đó bên cạnh chữ ký hiệu có thêm mũi tên cong.
4. Hình chiếu riêng phần
Hình chiếu riêng phần là hình chiếu một phần nhỏ của vật thể trên mặt phẳng hình chiếu cơ bản. Nó thay cho cả một hình chiếu cơ bản khi chỉ còn một chi tiết nhỏ chưa rõ. Hình chiếu riêng phần được giới hạn bằng nét lượn sóng; nếu phần được biểu diễn có đường bao khép kín, ranh giới rõ rệt thì không cần vẽ nét giới hạn. Cách ghi ký hiệu giống hình chiếu phụ (Hình 5.6).
Tấm gập ở Hình 5.5 gồm một phần nằm ngang và một phần nghiêng 45° có đầu lượn tròn và lỗ.
- Hình chiếu đứng cho thấy góc gập và chiều dày tấm.
- Nếu vẽ đủ hình chiếu bằng, phần nghiêng bị co ngắn, lỗ tròn thành elip: vừa khó vẽ, vừa không ghi được kích thước. Vì vậy hình chiếu bằng chỉ vẽ phần nằm ngang, cắt lìa bằng nét lượn sóng.
- Phần nghiêng được chiếu theo hướng A vuông góc với nó. Hình chiếu phụ A cho hình dạng thật: bề rộng tấm, bán kính lượn và đường kính lỗ.