Phương pháp chiếu góc thứ nhất và góc thứ ba – sáu hình chiếu cơ bản
- Giải thích được sự khác nhau giữa phương pháp chiếu góc thứ nhất (hệ E) và góc thứ ba (hệ A).
- Đặt đúng vị trí sáu hình chiếu cơ bản ở mỗi phương pháp.
- Nhận ra phương pháp chiếu của một bản vẽ qua ký hiệu hình nón cụt và qua cách bố trí hình.
- Đọc đúng bản vẽ của Nhật Bản, Mỹ vẽ theo góc chiếu thứ ba.
Ở các bài trước, vật thể luôn đặt giữa người quan sát và mặt phẳng hình chiếu. Đó là cách của TCVN và ISO. Nhưng bản vẽ của Nhật Bản, Mỹ lại làm ngược lại. Nếu bạn làm việc với doanh nghiệp Nhật, đọc nhầm phương pháp chiếu sẽ khiến chi tiết bị gia công ngược trái – phải. Bài này giúp bạn tránh lỗi đó.
1. Hai phương pháp chiếu
Hai mặt phẳng P1 và P2 chia không gian thành bốn góc phần tư (Hình 3.20). Người quan sát luôn nhìn từ trước tới và từ trên xuống.
- Phương pháp chiếu góc thứ nhất (PPCG1, còn gọi là hệ E): vật thể đặt ở góc phần tư I, tức là vật thể nằm giữa người quan sát và mặt phẳng hình chiếu.
- Phương pháp chiếu góc thứ ba (PPCG3, còn gọi là hệ A): vật thể đặt ở góc phần tư III, tức là mặt phẳng hình chiếu nằm giữa người quan sát và vật thể. Mặt phẳng hình chiếu coi như trong suốt, hình chiếu hiện lên như nhìn vật thể qua tấm kính.
| PPCG1 – hệ E | PPCG3 – hệ A | |
|---|---|---|
| Thứ tự | người quan sát → vật thể → mặt phẳng | người quan sát → mặt phẳng → vật thể |
| Nơi dùng | Việt Nam (TCVN), ISO, các nước châu Âu | Nhật Bản (JIS), Mỹ và một số nước khác |
| Hình chiếu từ trên | đặt dưới hình chiếu đứng | đặt trên hình chiếu đứng |
| Hình chiếu từ trái | đặt bên phải | đặt bên trái |
2. Sáu hình chiếu cơ bản
Theo TCVN 8-30 (ISO 128-30), sáu mặt của một hình hộp bao quanh vật thể được lấy làm sáu mặt phẳng hình chiếu cơ bản. Chiếu vật thể theo sáu hướng (Hình 3.22), ta có sáu hình chiếu cơ bản: (1) từ trước – hình chiếu đứng, còn gọi là hình chiếu chính; (2) từ trên – hình chiếu bằng; (3) từ trái – hình chiếu cạnh; (4) từ phải; (5) từ dưới; (6) từ sau.
Hình chiếu từ trước quan trọng nhất: phải đặt vật thể sao cho hình này thể hiện được nhiều nhất hình dạng và kích thước. Không cần vẽ cả sáu hình; chỉ dùng số hình vừa đủ để xác định vật thể một cách duy nhất.
3. Vị trí các hình chiếu ở PPCG1
Lấy hình chiếu từ trước làm gốc. Vì mặt phẳng hình chiếu nằm sau vật thể, mỗi hình chiếu đặt ở phía đối diện với hướng nhìn (Hình 3.23): hình chiếu từ trên đặt ở dưới, từ dưới đặt ở trên, từ trái đặt bên phải, từ phải đặt bên trái. Hình chiếu từ sau đặt ở ngoài cùng bên phải hoặc bên trái.
4. Vị trí các hình chiếu ở PPCG3
Vì mặt phẳng hình chiếu nằm trước vật thể, mỗi hình chiếu đặt ở chính phía nhìn (Hình 3.24): hình chiếu từ trên đặt ở trên, từ dưới đặt ở dưới, từ trái đặt bên trái, từ phải đặt bên phải. Dễ nhớ: nhìn từ đâu, đặt ở đó.
5. Ký hiệu phương pháp chiếu
Phương pháp chiếu được ghi trong khung tên bằng một ký hiệu vẽ hai hình chiếu của một hình nón cụt (Hình 3.25). Hình hai đường tròn đồng tâm là hình nón cụt nhìn từ phía đáy nhỏ, tức nhìn từ trái. Nếu hai đường tròn nằm bên phải hình thang: hình chiếu từ trái đặt bên phải – PPCG1. Nếu hai đường tròn nằm bên trái: PPCG3.
Bản vẽ theo TCVN mặc nhiên dùng PPCG1 nên thường không ghi ký hiệu. Bản vẽ của Nhật theo JIS dùng PPCG3; trong khung tên thường có ký hiệu này hoặc dòng chữ 第三角法 (phép chiếu góc thứ ba).
6. Đọc bản vẽ vẽ theo góc chiếu thứ ba
- Tìm ký hiệu phương pháp chiếu trong khung tên trước khi đọc bất cứ hình nào.
- Xác định hình chiếu chính (thường là hình có nhiều kích thước nhất).
- Với hệ A: hình nằm phía trên là nhìn từ trên xuống; hình nằm bên phải là nhìn từ phải sang; hình nằm bên trái là nhìn từ trái sang.
- Kiểm tra lại bằng nét thấy – nét khuất: phần nào gần người nhìn theo hướng đó thì thấy.
Trên Hình 3.26, khối khuyết góc có phần khuyết ở góc trên – phải – trước. Ở hệ E, hình bên phải là hình nhìn từ trái: phần khuyết nằm khuất phía sau khối nên vẽ nét đứt. Ở hệ A, hình bên phải là hình nhìn từ phải: phần khuyết ở ngay trước mắt nên vẽ nét liền đậm, và mặt trước của vật thể nằm ở mép trái của hình, sát với hình chiếu chính.